HOÀI NIỆM

 

 

 

 

Kết quả hình ảnh cho divider gif



Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

TẠI SAO TÔI KHÔNG THÍCH ......

  


Nguyen Quốc

2͏6͏ ͏t͏h͏á͏n͏g͏ ͏8͏ ͏l͏ú͏c͏ ͏2͏1͏:͏1͏7͏

TẠI SAO TÔI KHÔNG THÍCH HAI CHỮ “VIỆT KIỀU”?

Có người hỏi tôi: “Tại sao anh không thích hai chữ Việt kiều, trong khi chính anh cũng đang sống ở nước ngoài?”

Câu hỏi ấy tưởng đơn giản, nhưng phía sau là cả một lịch sử buồn của những con người phải rời bỏ quê hương, những năm tháng tha hương đầy nước mắt và những ngộ nhận khiến hai chữ “Việt kiều” trở nên nặng nề.

Tôi không ghét người Việt sống ở nước ngoài, cũng không phủ nhận mình là một người Việt xa quê. Điều tôi không thích là cách xã hội khoác lên hai chữ ấy quá nhiều hào quang, thành kiến và những thước đo con người bằng tiền bạc.

Hai chữ từng được xem như một “hộ chiếu sang trọng”

Có một thời, chỉ cần nghe ai đó là “Việt kiều Mỹ”, người ta lập tức nhìn họ bằng ánh mắt khác. Chưa cần biết họ sống thế nào, làm nghề gì hay có nhân cách ra sao, người ta đã mặc nhiên cho rằng họ giàu có, thành đạt và đáng được trọng vọng.

Trong hôn nhân, hai chữ “Việt kiều” đôi khi còn trở thành lợi thế lớn hơn cả tình yêu. Một người đàn ông có quốc tịch nước ngoài, khả năng bảo lãnh và vài món quà mang về từ Mỹ có thể được xem như một “tấm vé đổi đời”. Người ta không hỏi anh ta có tử tế, trách nhiệm hay thật lòng yêu thương không, mà chỉ hỏi:

“Bao giờ được đi Mỹ?”

Biết bao cuộc tình tan vỡ, bao cô gái bước vào hôn nhân không bắt đầu bằng tình yêu mà bằng ước mơ xuất ngoại. Những người chân thành, có học thức và nhân phẩm ở quê nhà cũng có thể bị gạt sang một bên chỉ vì không có hộ chiếu nước ngoài.

Tôi từng chứng kiến và đau đớn bởi nghịch cảnh ấy. Vì vậy, “Việt kiều” với tôi không chỉ là một danh xưng, mà còn gợi lại thời kỳ giá trị con người bị đặt sau quốc tịch, tiền bạc và cơ hội định cư.

Đằng sau vẻ hào nhoáng là những cuộc đời rất thật

Nhiều người chỉ nhìn thấy chiếc xe thuê, bộ quần áo đẹp, những bữa tiệc và đồng đô-la mang về. Họ không thấy những ngày người xa xứ làm việc mười, mười hai tiếng trong nhà máy, tiệm nail, nhà hàng hay hãng xưởng.

Họ không thấy đôi tay nứt nẻ vì hóa chất, những ca làm đêm giữa mùa đông, căn phòng thuê chật hẹp, các hóa đơn, khoản nợ, tiền học của con và nỗi cô đơn nơi đất khách.

Nhiều người phải chắt chiu từng đồng để phụng dưỡng cha mẹ, giúp đỡ anh em và lo cho tương lai con cái. Họ không phải những “đại gia”, mà chỉ là những người lao động bình thường, đổi mồ hôi và tuổi trẻ để có cuộc sống ổn định hơn.

Bởi vậy, gọi họ là “Việt kiều” rồi mặc nhiên xem họ như những chiếc ví biết đi cũng là một sự bất công.

Tôi không thích sự khoe khoang được che đậy bằng hai chữ ấy

Tôi trân trọng những người xa quê sống tử tế, khiêm nhường và nhớ về nguồn cội. Nhưng tôi không đồng tình với những người khi trở về lại dùng tiền bạc để phô trương, lên mặt và tìm kiếm sự tung hô.

Ở nước ngoài, họ có thể chỉ là người lao động bình thường. Nhưng về Việt Nam, họ thuê xe sang, vung tiền rồi nói năng như thể đứng cao hơn những người trong nước. Có người còn nghĩ đã là “Việt kiều” thì phải được ưu tiên, phục vụ và kính nể.

Chính cách hành xử ấy biến một danh xưng chỉ nơi cư trú thành biểu tượng của sự hơn thua.

Nhưng giá trị con người không nằm ở hộ chiếu hay số đô-la có thể tiêu trong một chuyến về quê. Nó nằm ở cách họ đối xử với cha mẹ, bạn bè, người nghèo và những người không thể đem lại lợi ích cho mình.

Sống ở Mỹ không đương nhiên văn minh hơn sống ở Việt Nam. Có quốc tịch nước ngoài cũng không khiến ai cao quý hơn người chưa từng rời khỏi làng quê. Biên giới thay đổi nơi cư trú, nhưng không tự động thay đổi nhân cách.

Đừng để hai chữ ấy tạo khoảng cách giữa người Việt với người Việt

Tại sao chúng ta phải chia nhau thành “Việt kiều” và “người trong nước”?

Một người sinh ra ở Việt Nam, lớn lên bằng lời ru của mẹ, từng ăn bát cơm quê và vẫn nhớ về nguồn cội dù đang sống ở Boston, California, Paris, Sydney hay Toronto trước hết vẫn là một người Việt Nam.

Họ có thể mang quốc tịch Hoa Kỳ, Canada, Pháp hay Úc, nhưng trong ký ức vẫn còn tiếng Việt, bóng mẹ, mái nhà xưa và mồ mả tổ tiên. Nhiều người ra đi vì chiến tranh, tù đày, nghèo đói, khát vọng tự do hoặc mong muốn tìm tương lai tốt đẹp hơn cho con cái.

Với những người tị nạn, sự ra đi còn là một vết thương lịch sử. Có người vượt biển, mất người thân giữa đại dương, sống trong trại tị nạn rồi bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng. Gọi họ bằng một danh xưng hào nhoáng mà quên đi những mất mát ấy là chưa hiểu hết thân phận người lưu vong.

Họ không phải những người trở về từ một giấc mơ toàn màu hồng. Nhiều người chỉ là những đứa con xa nhà, mang theo quê hương đã mất trong lòng và trở về tìm lại một phần tuổi thơ không bao giờ còn nguyên vẹn.

Tôi không ghét “Việt kiều”; tôi chỉ không muốn con người bị đóng khung

Hai chữ “Việt kiều” tự nó không xấu. Điều khiến tôi không thích là những lớp nghĩa méo mó xã hội đặt lên nó: giàu có, hơn người, dễ cưới vợ đẹp, có quyền khoe khoang hoặc phải chi tiền mỗi khi về nước.

Tôi không muốn được kính trọng chỉ vì sống ở Mỹ, cũng không muốn bị nghi ngờ, lợi dụng hay tâng bốc vì mang quốc tịch nước ngoài. Nếu ai quý mến tôi, xin hãy quý vì cách tôi sống, vì lòng chân thành và những gì tôi đã làm cho gia đình, bạn bè, quê hương.

Nếu phải gọi, tôi thích được gọi chính xác hơn là người Việt xa quê. Hay là người Mỹ gốc Việt, Úc gốc Việt, Canada gốc Việt…

Chữ “xa quê” nghe buồn nhưng thật. Nó có khoảng cách của đại dương, tiếng gọi cố hương, bóng dáng cha mẹ già và nỗi đau của người muốn trở về nhưng không còn tìm thấy quê hương như trong ký ức.

Đã đến lúc trả con người về đúng giá trị của con người

Xin đừng thấy một người từ nước ngoài trở về rồi lập tức hỏi họ kiếm được bao nhiêu tiền. Đừng xem hôn nhân với người có quốc tịch nước ngoài là con đường đổi đời. Đừng dùng hộ chiếu để đo phẩm giá, cũng đừng biến lòng hiếu thảo của người xa xứ thành nghĩa vụ chu cấp vô tận.

Ngược lại, người Việt ở nước ngoài cũng cần bước xuống khỏi chiếc bục tưởng tượng của mình. Đừng mang vài đồng đô-la về quê rồi cho rằng mình có quyền dạy người khác cách sống. Đừng dùng phô trương để che giấu tự ti, hay làm tổn thương quê hương bằng thái độ khinh bạc những người đang sống trên mảnh đất đã sinh ra mình.

Dù trong nước hay ngoài nước, giàu hay nghèo, chúng ta đều mang những nhọc nhằn riêng. Không ai đáng được tôn kính chỉ vì nơi họ sống, cũng không ai đáng bị xem thường vì chưa thể rời đi.

Tôi không thích hai chữ “Việt kiều” khi nó trở thành chiếc nhãn phân chia, hào quang vay mượn hay thước đo tiền bạc. Nhưng tôi trân trọng những người Việt xa quê vẫn sống lương thiện, âm thầm lao động, nuôi dạy con cái và giữ trong tim tiếng nói của tổ tiên.

Sau cùng, hộ chiếu chỉ cho biết chúng ta thuộc về quốc gia nào trên giấy tờ. Còn cách chúng ta yêu thương, biết ơn và đối xử với đồng bào mới nói lên chúng ta là ai.

Tôi không cần được gọi là “Việt kiều”.

Tôi chỉ muốn được gọi bằng một danh xưng giản dị, chân thật và thiêng liêng hơn:

Một người Việt Nam đang sống xa quê hương.

Và nếu một ngày tôi trở về, xin đừng đón tôi bằng những lời tung hô dành cho một “Việt kiều”. Đừng nhìn chiếc đồng hồ tôi đeo, chiếc xe tôi đi hay những món quà tôi mang theo. Hãy nhìn tôi như nhìn một người con đã đi quá lâu, nay trở lại đứng trước mái nhà xưa, bồi hồi nghe tiếng gió quê hương lay trên hàng cây cũ.

Bởi sau bao nhiêu năm lưu lạc, điều người xa xứ cần nhất không phải là sự ngưỡng mộ, mà là cảm giác vẫn còn được quê hương nhận mặt.

Chúng tôi trở về không phải để chứng minh mình thành đạt hơn ai. Chúng tôi trở về để thắp một nén hương trên mộ cha mẹ, để tìm lại con đường từng in dấu chân trần, để nghe lại một giọng nói thân quen và để biết rằng đâu đó trên mảnh đất này vẫn còn một người nhớ tên mình.

Có những người rời quê hương bằng máy bay, có người ra đi trên những con thuyền mong manh giữa biển cả. Có người mang theo hành lý, có người chỉ mang theo nỗi sợ hãi và một niềm hy vọng sống còn. Nhưng dù đã đi bằng con đường nào, sâu thẳm trong trái tim họ vẫn có một lối nhỏ quay về.

Lối ấy không trải bằng đô-la, không mở ra bằng quốc tịch và cũng không được soi sáng bởi những lời tâng bốc. Lối ấy được lát bằng ký ức, tình thân, tiếng mẹ ru và những giọt nước mắt chưa bao giờ khô của người ly hương.

Vì thế, xin đừng gọi chúng tôi bằng một danh xưng khiến người với người trở nên xa cách. Nếu còn thương nhau, hãy gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào. Hai tiếng ấy không phân biệt người đang ở lại hay người đã ra đi, không hỏi ai giàu hơn, ai thành công hơn, ai cầm hộ chiếu của quốc gia nào.

“Đồng bào” nghĩa là cùng chung một cội nguồn, cùng mang trong tim tiếng nói của cha ông và cùng biết đau khi quê hương còn bất hạnh.

Tôi không chối bỏ quá khứ, cũng không phủ nhận nơi đã cưu mang và cho tôi cơ hội làm lại cuộc đời. Tôi biết ơn nước Mỹ đã cho tôi tự do, nhưng tôi vẫn nhớ Việt Nam vì nơi ấy có tuổi thơ, có mồ mả tổ tiên, có hình bóng mẹ cha và có một phần đời tôi đã vĩnh viễn để lại.

Tôi có thể sống nửa đời nơi đất khách, nói một ngôn ngữ khác và mang một quốc tịch khác, nhưng mỗi khi nghe một câu hò quê cũ, trái tim tôi vẫn nhận ra nơi mình đã bắt đầu.

Cho nên, điều tôi không thích chưa bao giờ là con người mang tên “Việt kiều”. Điều tôi không thích là bức tường vô hình được dựng lên bởi hai chữ ấy — bức tường của tiền bạc, định kiến, tự ti và kiêu hãnh. Tôi chỉ mong một ngày bức tường đó được tháo xuống để người ra đi không còn phải khoe khoang, người ở lại không còn phải ngước nhìn, và tất cả có thể gặp nhau bằng sự bình đẳng, cảm thông.

Bởi cuối cùng, chúng ta đến với cuộc đời bằng đôi bàn tay trắng và cũng rời khỏi cuộc đời mà không thể mang theo một tấm hộ chiếu hay một đồng tiền nào. Thứ còn lại không phải là chúng ta đã sống ở đâu, giàu có đến mức nào, mà là đã sống ra sao và để lại bao nhiêu yêu thương trong lòng người khác.

Vì quê hương không nằm trong hộ chiếu.

Quê hương nằm trong ký ức.

Dân tộc không được đo bằng nơi cư trú.

Dân tộc được nhận ra bằng tiếng gọi của trái tim.

Và con người không trở nên cao quý vì đã đi thật xa.

Con người chỉ thật sự cao quý khi đi qua bao nhiêu xa cách, khổ đau và đổi thay mà vẫn giữ được lòng nhân hậu, sự khiêm nhường cùng nghĩa tình đối với nơi mình đã sinh ra.

Quốc Nguyên

Người về từ lòng đại dương .

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

TÔI THÍCH NGƯỜI VỢ HOANG DÃ

 

        Cô ấy thử những điều trước giờ chưa từng làm, như thể lần đầu cho phép bản thân bước ra khỏi khuôn mẫu tự đặt ra suốt nhiều năm.

    Tôi cưới vợ đã sáu năm. Trong mắt mọi người, vợ tôi là mẫu phụ nữ hiền lành, nhút nhát, đoan trang đúng nghĩa. Vợ tôi ít nói, sống nguyên tắc, lúc nào cũng giữ chừng mực, kể cả trong đời sống vợ chồng. Chuyện gần gũi của chúng tôi từ trước đến nay luôn nhẹ nhàng, quen thuộc và cơ bản nhất. Tôi từng nghĩ đó là tính cách của vợ và mình nên tôn trọng.




    Cho đến một tối cách đây không lâu, trong buổi tiệc nhỏ với bạn bè, vợ nể bạn nên có uống vài chén. Cô ấy không say, nhưng rõ ràng men rượu khiến những rào cản quen thuộc trở nên lỏng lẻo. Trên đường về, vợ nói nhiều hơn, cười nhiều hơn. Ánh mắt cũng khác, lấp lánh ý cười tinh nghịch, còn trêu chọc tôi. Tôi nhận ra vợ mình có một phần rất khác, chỉ là bấy lâu nay cô ấy giấu đi hoặc tự kìm nén chính mình.Đêm đó, vợ chủ động hơn, "hoang dã" hơn, không rụt rè và có chút vụng về. Cô ấy thử những điều trước giờ chưa từng làm, như thể lần đầu cho phép bản thân bước ra khỏi khuôn mẫu tự đặt ra suốt nhiều năm. Tôi không biết gọi cảm giác đó là gì, chỉ thấy vừa bất ngờ vừa thú vị, vừa... rất gần gũi. Như thể tôi đang được gặp lại vợ mình nhưng ở một phiên bản khác, sống động và chân thật hơn.



    Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, vợ có chút ngượng ngùng. Cô ấy hỏi tôi có thấy "kỳ", "cô ấy có hư" không. Tôi chỉ ôm vợ và nói rằng tôi rất thích. Không phải vì những điều mới mẻ, mà vì lần đầu tiên tôi cảm nhận rõ vợ hoàn toàn thả lỏng, không gồng mình làm "người vợ đúng mực".Sau hôm đó, tôi có chút chờ mong những phút giây riêng tư của hai vợ chồng nhưng dường như cô ấy lại trở về là người vợ nhu mì, chuẩn mực của trước kia, mặc kệ tôi gợi ý. Tôi cố tình thay đổi thì vợ tỏ ra không hợp tác. Tôi khá hụt hẫng và không biết nên làm sao để vợ cởi mở hơn như buổi tối hôm đó.




   


Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2024

HAI TRÁI DỪA

 Một cô gái hỏi: ""Bao nhiêu tiền 1 trái dừa vậy ông?""

- Ông già bán dừa trả lời cô ta, "" Thưa cô 10 ngàn 1 trái.""

- Cô gái nói, "" bán cho tôi 2 trái 15 ngàn được chứ. Không được tôi đi chỗ khác.""

- Người bán hàng trả lời: ""cô lấy đi, 15 ngàn 2 trái. Tôi nghĩ như vậy cũng tốt rồi bởi vì cả ngày nay tôi chưa bán được cho ai cả”

Cô gái lấy 2 trái dừa và bỏ đi với cảm giác của một người chiến thắng. Cô ấy bước vào xe hơi và đi đón cô bạn, cả 2 cùng tới một quán ăn sang trọng.

2 cô gái ngồi xuống bàn và gọi những thứ họ thích. Họ chỉ ăn một ít và để lại rất nhiều thứ mà họ gọi ra.

Sau đó cô ta thanh toán hóa đơn. Hóa đơn là 850k, cô gái đưa 900 k và nói với ông chủ quán: ""khỏi thối""




Sự việc này có vẻ rất bình thường đối với ông chủ quán giàu có. Nhưng nó rất đau đớn cho người bán dừa tội nghiệp.

Tại sao chúng ta thể hiện sự tính toán chi li khi chúng ta mua hàng của những người nghèo khổ tội nghiệp? Và tại sao chúng ta lại quá hào phóng với những người không cần sự hào phóng của chúng ta?

Mỗi lần một đứa trẻ nghèo đến với tôi để bán một cái gì đó đơn giản, tôi lại nhớ về ba tôi. Ba tôi thường mua những món đồ lặt vặt từ những người nghèo khó với giá cao, mặc dù ông không thực sự cần đến chúng. Có lần tôi thắc mắc hỏi ba về hành động “kỳ quặc” đó thì ba tôi nói: ""đó chính là chân giá trị của cái gọi là từ thiện”.

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2024

THỀM XUÂN CÓ NGOẠI NGỒI CHỜ

  Hùng vỗ vai Phong trong bữa tiệc tất niên “mùng 1 đi phượt săn mây với tụi tao không, năm nào tết cũng chừng đó mà về làm gì, chán òm”.

  Phong lắc đầu, cười từ chối. Hễ năm mới là Hùng lại khoe những tấm hình du xuân bằng xe máy trên đỉnh đồi chùng chình mây hay một ghềnh đá nào đó xa tít.


Còn Phong, chỉ trông hết ngày làm cuối rồi vội vã khoác ba lô ra sân bay về quê. Sân bay cuối năm ùn ứ, lô nhô kẻ đứng người ngồi. Ai ai cũng dán mắt lên cái màn hình nhấp nháy thông báo chuyến bay.


Cận tết, ngày nào ngoại cũng gọi điện, hỏi Phong thèm dưa món, củ kiệu, thèm bánh in hay bánh nổ để ngoại làm. Năm ngoái đang trên máy bay thì ngoại gọi, khi máy bay đáp Phong thấy mấy chục cuộc gọi nhỡ.


     Ngoại cười móm mém, đâu biết trên trời không có sóng. Hồi nhỏ, ngoại hay ngồi ngoài hiên chỉ Phong học bài. Phong đọc bài mà ngó trời ngó đất, hễ thấy chiếc máy bay nào trên bầu trời là ba chân bốn cẳng chạy ra xem. Máy bay nhỏ xíu giữa mênh mông mây trắng, Phong phải khum bàn tay, nheo nheo đôi mắt mới thấy.


Rồi khi máy bay mất hút, Phong buồn buồn nói khi nào con được đi máy bay hả ngoại? Ngoại vuốt vuốt tóc Phong bảo, cứ học giỏi rồi sẽ đi cùng trời cuối đất. Bây giờ Phong như cơn gió, hàng tháng cứ phải bay đến tỉnh này tỉnh kia khảo sát công việc đến mệt nhoài.


Xếp hàng trước Phong khi làm thủ tục có người đàn bà lóng ngóng với chiếc ba lô xộc xệch trên vai. Chị nhấp nhổm không yên, chốc chốc lại mở ba lô lấy giấy tờ ra kiểm tra coi có đầy đủ chưa rồi lại nhét vào.


Chị quay lại hỏi Phong đủ điều, rồi lại đưa đôi bàn tay chai sần móc giấy tờ hỏi Phong chừng này là người ta cho mình lên máy bay phải không chú? Gương mặt chị sáng lên khi biết mình và Phong cùng chuyến. Đây là lần đầu tiên chị đi máy bay.


Chị nói tiếc tiền lắm chứ, gần chục triệu đồng cả về lẫn vô lại. Rồi chị tặc lưỡi, trên thành phố chị đang trông một cụ già, chủ nhà chỉ cho chị nghỉ có 6 ngày, ngồi xe đò ra vô mất hết hai ngày rồi nên chị đi máy bay cho nhanh để về với con.


Phong ngồi cạnh chị trên máy bay. Chị bám chặt tay Phong khi máy bay cất cánh, lả người nói tưởng đi máy bay không mệt, ai ngờ còn đuối hơn xe đò.


Khi Phong vỗ nhẹ vào vai bảo chị máy bay sắp đáp, mắt chị sáng rực lên: “Vậy hả em, cỡ một tiếng nữa chị gặp con rồi. Tội nghiệp, chừ chắc ngồi dưới ngõ đợi má rồi!”. Phong đứng nhìn theo bóng chị tất tả khoác ba lô trong đám người cuối năm vội vã trở về.


Ngoại chưa từng đi máy bay. Ngoại hỏi Phong cảm giác ngồi trên máy bay có giống ngồi xe đò không con, có bị xóc, có say sóng, ghế ngồi có êm không? Rồi khi bay qua những vùng mây trắng xóa thấy mây thế nào? Thật khó để diễn tả cho ngoại hiểu.


Cả cuộc đời ngoại chỉ có vài lần ngồi xe đò ra thị trấn, đường hồi đó đầy đá, chiếc xe đò cũ mèm chất đầy hàng nghiêng bên này ngả bên kia.


Ngoại nói ngày vắng Phong ngoại cũng hay ngó lên những chiếc máy bay bé xíu bay ngang vùng trời nhà mình, biết đâu trong những chuyến bay đó có Phong. Phong nói để khi nào con dắt ngoại đi máy bay một lần cho biết. Ngoại lắc đầu, giờ đi ra đầu làng đã muốn hụt hơi rồi còn đi đâu xa nữa.


Ngồi trên máy bay, Phong biết ngoại sẽ chống gậy đi xuống đi lên con dốc mấy chục bận để ngóng Phong. Rồi khi mỏi chân quá, ngoại sẽ ngồi ngay bậc cửa vừa bóp chân vừa ngó xuống ngõ.


Con ngõ cong cong, hai bên rập rờn vạn thọ. Ngoại ngồi ngóng mãi cho đến khi con chó Trập ngoáy tít đuôi chạy ra mừng, mắt ngoại hấp háy, giọng ngoại rưng rưng: “Cha bây, chừ mới về đó hả?’’. Từ hồi Phong bay chuyến đầu tiên xa nhà cho đến tận bây giờ, hơn mười năm trời, tết nào ngoại cũng ngồi hiên nhà ngóng Phong như thế.


Thỉnh thoảng má lại bàn với mấy cậu chuyện sửa nhà cho ngoại. Mỗi lần nghe sửa nhà là ngoại lắc đầu, không sửa sang chi hết. Ngoại già rồi, ở có bao nhiêu đâu, với lại căn nhà gỗ ni gắn bó với ngoại từ hồi mới về nhà chồng, rồi sinh con đẻ cái, rồi chứng kiến từng đứa cháu lớn lên. Chừ xây lại giống như ở nhà người khác, ngoại không quen.


Ngôi nhà gỗ nằm dưới mấy tán cau vẫn y nguyên những ngày Phong còn lẫm chẫm. Ngay cánh cửa gỗ còn hằn lại mấy dấu gạch ngang. Cứ mỗi bận tết, ngoại sẽ ngoắt Phong lại đo xem cao hơn năm ngoái chừng nào và để lại trên cửa một dấu gạch ngang. Dấu mới cao hơn dấu cũ, vừa đo ngoại vừa xuýt xoa cháu ngoại mau lớn quá chừng.


Bây giờ ngoại vẫn ngồi ngay bậc cửa lượm những hột lúa còn sót lại trong gạo trước khi nhen lửa nấu bữa cơm chiều. Lưng ngoại đã còng, tóc ngoại trắng như sương. Năm nay ngoại đã sang tuổi 92 rồi mà dáng ngồi vẫn y chang trong ký ức Phong. Hồi còn khỏe, giáp tết ngoại sẽ trải chiếu ngay hiên nhà ngồi gói bánh tét, bánh rò.


Phong ngồi bên bắt chước gói theo. Ngoại chỉ từng chút một mà chiếc bánh Phong gói vẫn lòi cả nếp, lỏng leo chứ chẳng thể tròn đều như bánh của ngoại.


Nay ngoại già chẳng gói bánh nữa nhưng cứ đến ngày là nhắc chừng má ra vườn giật lá chuối, ngâm nếp cho kỹ. Phong nghĩ ngoại thật lạ kỳ khi giữ nguyên một nếp sống qua mấy mươi năm, rồi giữ cho đời con đời cháu. Ngoại cười, có rứa thì tụi bây mới có cái để nhớ, để về.


    Sáng mùng Một, ngoại thảnh thơi ngồi nhai trầu ngó mông lung ra cội mai già. Năm nay nắng ấm, mai bung nở vàng ươm loang hương trong gió thơm lừng. Năm nào người ta cũng vào trả giá cội mai, năm sau cao hơn năm trước mà ngoại không bán. Ngoại nói trồng một cái cây mất cả đời người, sao đành bứng lên bán cho người khác.


Ngoại lần trong túi áo, lấy ra phong bao đỏ chót lì xì cho Phong. Ngoại xoa đầu Phong như ngày còn bé bỏng. Ngoại hỏi chừng nào bây đi. Phong nói mùng 5 phải bay sớm cho kịp công việc. Ngoại gật đầu, đi đi rồi mỗi tết quay về với ngoại, nghe chưa!



MẦM XANH

 Mỗi sáng, Linh bị đánh thức bởi thanh âm ồn ào từ quán cà phê dưới tầng trệt. Từ ban công căn hộ nhìn xuống, Linh thấy quán cà phê chỉ vỏn vẹn 3 bộ bàn. Loại bàn nhựa bé tí, thấp tè. Có lẽ họ phải lựa bộ bàn ghế có kích cỡ bé nhất, mới kê vừa khoảng vỉa hè họ tự ý lấn chiếm đó. 


     Vậy mà tiếng ồn vẫn loang ra cả xóm. Khách hàng ruột của quán là cánh đàn ông rảnh rỗi, độ chừng năm, bảy người, sáng nào cũng tụ tập nói chuyện thiên hạ. Ai bảo đàn ông kiệm lời, ít chuyện?

    Căn hộ Linh ở tầng hai, một bên là căn phòng cho thuê trọ. Hôm rồi mới có gia đình trẻ dọn đến ở. Có lẽ do trời nóng hay sao, hai đứa bé thay nhau khóc ngằn ngặt. Vợ chồng hàng xóm đối diện phòng Linh có 2 đứa con lớn hơn, nhưng mẹ của chúng không ngừng quát nạt mỗi lúc chuẩn bị đến trường, có như vậy chúng mới chịu rời chiếc điện thoại để đi học đúng giờ.


Buổi chiều, không gian sống của Linh còn bùng nổ hơn bởi được phụ họa bằng những ca từ não nề có, sôi động có, từ chiếc loa kẹo kéo. Bằng đó thanh âm lặp lại mỗi ngày, đến ngán ngẩm.


    Những lúc ấy Linh lại rủ chồng: “Hay là mình đi đâu ít ngày”. Hoàng, chồng Linh lúc nào chẳng chiều theo ý cô. Nhưng lần này anh mới chuyển sang chỗ làm mới. Công ty quy định trong thời gian thử việc không được nghỉ phép, trừ những việc cấp bách.

   Dù không nói ra, nhưng Hoàng hiểu sự không hài lòng của Linh khi sống ở nơi này. Anh luôn cho đó là lỗi của mình. Chẳng phải anh đã từng nói với Linh sẽ mang lại cho cô ấy cuộc sống tốt nhất? Tuổi trẻ luôn thừa sự tự tin, nên ngại ngần gì một lời hứa. Chỉ đến khi bị dòng đời quăng quật té sấp té ngửa, đồng tiền kiếm ra sao mà khó quá, Hoàng mới dần tỉnh ra, sống cho thực tế lên. Số tiền bao nhiêu năm đi làm dành dụm, gom cả quà mừng cưới của hai bên họ hàng, Hoàng và Linh mới mua được căn hộ cũ ở thành phố. Được cái, căn hộ nằm ngay trung tâm nên tiện cho công việc của cả hai.


Tối đó, Hoàng nói với Linh: “Đợi sau này cha mẹ chia đất, chúng mình sẽ có chỗ ở tốt hơn…”. Nhưng là bao giờ? Linh chưa bật ra câu hỏi đó, dù nó luôn ngự trị trong cô. Bố mẹ Hoàng ở quê, có mảnh đất rộng hứa sẽ chia cho 3 anh em, nhưng không phải là bây giờ. Ý nghĩ đó khiến Linh giận cả bố mẹ Hoàng, cứ khư khư giữ đất quê nhà làm gì, để con cái phải sống khổ sở nơi thành thị chật hẹp.

Linh chìm vào giấc ngủ khi vẽ ra trong đầu những chuyến du lịch đến vùng đất mới đầy ắp sự thú vị. Có như vậy, Linh mới quên đi thực tại chán ngắt ở nơi mình đang sống này.


  Buổi sáng, lúc Linh vừa mở cửa để ra ngoài thì bắt gặp một người đàn ông trong bộ pijama đứng ngay trước cánh cửa phòng mình. Cả Linh và ông cụ đều bị bất ngờ khi nhìn thấy nhau. Linh không kịp phản ứng gì. Còn ông cụ thì thong thả bước đi, hay tay đưa lên đưa xuống như đang tập thể dục.


Nơi chung cư, hành lang là lối đi chung nên Linh cũng chẳng có lý do gì để hỏi ông cụ tại sao đứng trước cửa nhà mình. Nhưng nỗi thắc mắc thì vẫn ở trong lòng Linh, rõ ràng ông cụ cố ý muốn nhìn vào bên trong, dù cửa căn hộ nhà Linh có đến 2 lớp, nhìn cũng chẳng thấy.


Linh kể cho chồng nghe, Hoàng nói chắc họ chỉ đi ngang, vô tình dừng lại ngay lúc Linh mở cửa. Hoàng đơn giản và ít hoài nghi hơn Linh. Linh thì vẽ ra đủ thứ chuyện trong đầu mình, rằng có khi kẻ gian lợi dụng ông lão để theo dõi nhằm mục đích xấu chăng? Linh nhớ lại vụ mất trộm trong tủ đồ ở trung tâm thể thao. Giữa nơi luôn có người ra vào, và còn thuê bảo vệ trông coi, mà kẻ trộm vẫn ngang nhiên mở tủ đồ lấy đi những thứ giá trị của khách. Người ta cho rằng do dùng ổ khóa số. Việc đứng sát nhau để khóa ngăn tủ đựng đồ chính là lỗ hổng khiến kẻ gian đột nhập vào lấy mã số dễ dàng. Nhà Linh cũng dùng ổ khóa số, có khi nào…


Hôm sau, người gặp ông cụ là Hoàng. Khác với Linh, Hoàng bắt chuyện tự nhiên: “Ông ở gần đây à?”. Người đàn ông cố hữu trong trang phục pijama nhìn hiền lành, da dẻ hồng hào, khuôn mặt đầy tròn phúc hậu và ánh mắt sáng lên khi nghe giọng Hoàng. Ông trả lời: “Không, tôi chỉ… đến chơi”. Hoàng hỏi tiếp: “Vậy là người thân của ông ở chung cư này ạ?”. Ông cụ tiếp tục lắc đầu. Đọc được dấu chấm hỏi trong mắt Hoàng, ông cởi mở chia sẻ: “Tôi là chủ cũ của căn hộ này, 60 năm rồi cơ đấy”.


Bây giờ thì cả Hoàng và Linh đều hiểu ra câu chuyện. Linh thở phào, vì không phải như những ý nghĩ khắc nghiệt trong cô. Cô nói với Hoàng hỏi xem ông cụ có muốn vào nhà chơi không? Hoàng cũng như chợt nhớ ra, vội mở cửa mời ông cụ vào nhà. Ông cụ có chút lưỡng lự sợ phiền, nhưng trong đáy mắt của ông chẳng thể giấu được nỗi khao khát muốn trở lại căn nhà cũ nhiều kỷ niệm mà mình từng gắn bó thêm một lần nữa.


  Đêm, Linh không ngủ được. Cô nhớ đến ánh mắt sáng lên của ông cụ, khi ông chạm tay vào từng mảng tường tưởng là vô tri, chẳng có ý nghĩa gì. Ông kể, đoạn tường này ngày xưa bà treo tấm bảng, đứng giảng bài cho học sinh mỗi ngày. Khi bà mất, mỗi lần nhìn lên bức tường có treo tấm bảng, ông lại thấy hình bóng bà. Bà hiền lành, chăm lo cho ông từng chút một. Không có bà, ông chẳng biết tự bắc nồi cơm cho mình ăn. Cả quần áo ông mặc, bà đem phơi mỗi ngày, xong gấp cẩn thận bỏ vào tủ. Mỗi buổi chiều lấy ra cho ông một bộ để sẵn trong nhà tắm. Vậy nên khi bà mất, ông còn chẳng biết quần áo của mình bấy lâu nay để ở đâu. Bà cũng biết ông sẽ khổ sở ra sao, vậy mà vẫn rời bỏ ông đi cho đành lòng.


Ông đi ra hướng ban công, nơi đó từng là “vườn cây” của bà. Ông đóng kệ cho cao lên ngang người, để những chậu cây đón được ánh nắng buổi sáng. Bà nhà ông thích trồng cây, bà muốn thấy cây trong mọi góc nhìn. Nhờ kệ ông đóng, những chậu cây của bà ngày càng xanh rờn, tốt tươi. Mỗi sáng, bà chọn một chậu đẹp nhất đem vào nhà. Đến chiều tối lại đưa ra cho cây phơi sương. Hôm sau trong nhà lại có chậu cây khác. Có bà, từng góc trong căn nhà bỗng trở nên sinh động, sức sống hẳn lên.


Ông nhìn lên phía mái tôn che máng xối từ tầng trên, hỏi Linh xem có thấy tổ chim ở nơi đó không? Linh nhìn theo hướng tay ông chỉ, một cành cây khẳng khiu hình như mọc từ dưới tầng trệt, nơi chạng ba, đúng là có mấy sợi lông chim. Ở phía dưới, cũng là đoạn có mái tôn từ tầng trệt che ra để chắn mưa nắng, ông hỏi Linh bầy mèo hoang còn về sinh sống không? Dạo đó, bà hay cho lũ mèo thức ăn thừa, chúng kéo nhau về nhiều lắm…


Ông chỉ tay ra phía góc ban công, bảo nơi này ngày xưa ông có kê bộ bàn trà để mỗi sáng ông với bà ra phơi nắng sớm, kể mãi không hết những câu chuyện ngày xưa cho nhau nghe, bởi có những chuyện bà kể đi kể lại, mà mỗi lần kể vẫn hào hứng như thể đó là lần đầu… Già rồi, ai chẳng lẩn thẩn vậy. Linh nhìn theo hướng ông chỉ, thấy chậu đất đã khô cằn, bên trong là gốc mai chiếu thủy đã chết khô từ bao giờ. Cô hình dung những chùm mai chiếu thủy như chùm đèn đong đưa tỏa hương thơm bên bàn trà của cặp vợ chồng già buổi sớm ban mai trong lành. Cô không nỡ hỏi ông xem quán cà phê bên dưới mở lâu chưa, có ồn ào như bây giờ không? Linh sợ những thắc mắc của mình như một nét vẽ bị lỗi làm hỏng đi bức tranh tươi sáng trong lòng ông cụ.


    Ông cụ nói về cái nơi Linh đang chán ngắt, mà nghe cứ như một thiên đường cổ tích từ thời xa xăm nào.


Buổi sáng thức giấc, việc đầu tiên Linh muốn ra thăm lại chậu mai chiếu thủy. Hôm qua, sau khi ông cụ về, Linh đã mang nước ra tưới cho cây. Tưới đến 3 ca nước đầy mới thấy dòng nước từ đáy chậu chảy ra.


Vừa lúc Hoàng bước ra ban công. Linh hỏi: “Anh xem, cây mai chiếu thủy này có sống lại được không?”. Hoàng đưa tay nhẩm tính, đã gần 6 tháng kể từ ngày Hoàng mua căn hộ và cùng Linh dọn về nơi này. Khoảng thời gian đó nắng nhiều hơn mưa. Anh đưa phần móng tay bấm vào đoạn gốc cây mai chiếu thủy, vẻ như vẫn còn nhựa sống.


Hoàng bảo: “Nếu chịu khó tưới nước, cây sẽ hồi sinh”. “Vậy em sẽ không đi du lịch nữa, chăm chỉ tưới nước đợi cây hồi sinh”. Hoàng cười: “Mình có thể mua chậu cây khác để ngắm nếu em thích”. Nhưng Linh bảo, cô ấy thích năng lượng từ chính chậu cây này, bởi ở đó có tâm thức thảnh thơi, bình yên của ông bà cụ.


Hôm sau, Hoàng trở về với một chậu cây cành lá xanh tươi, từng chiếc lá như hình trái tim, mỡ màng. “Cây hạnh phúc, ở cửa hàng họ nói vậy, nên anh mua để ở ban công”. Xong, anh tìm vị trí kê cây, kê luôn chiếc bàn đọc sách theo ý Linh.


Một buổi sáng, Linh reo lên thích thú khi chạm mắt phải chồi non bé xíu vừa nứt mầm từ thân cây mai chiếu thủy, ở gần đoạn hôm trước Hoàng cưa phần thân đã chết đi. Anh dặn Linh mỗi ngày khi rảnh ra xịt nước lên thân để dưỡng ẩm cho cây. Đến ngày thứ 20 thì điều kỳ diệu ấy xảy ra. Niềm hạnh phúc ùa về theo mầm xanh chỉ như một dấu chấm bé xíu mà Hoàng phải căng mắt mới nhìn ra. Linh còn hào hứng chụp hình lại mầm xanh kỳ diệu ấy, cẩn thận lưu vào máy.


Bữa sáng được Linh dọn ra chiếc bàn nơi ban công, cô thích góc ngồi này, vì nó mang đến sự bình an thực sự, hay chính ý nghĩ mình hướng về sẽ thành hiện thực?


Cô nhớ ra cũng lâu rồi, mình chẳng còn nghe thấy tiếng ồn nào ở nơi này. Nhưng trong bữa ăn, Linh vẫn rủ Hoàng: “Khi nào chúng mình cùng về quê thăm lại căn nhà cũ, anh nhé!”. Hoàng gật đầu. Cả hai vui vẻ nhắc lại thời kỳ “tuổi thơ dữ dội” của họ, khi còn là hàng xóm nơi miền quê hiền hòa.



Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2024

CÓ MỘT NGƯỜI MẸ MANG TÊN BÀ NGOẠI

 Mỗi lần nó đu đeo theo ngoại, ôm lấy cái lưng còng của ngoại, hôn hít lên má ngoại rồi cứ thủ thỉ "Mẹ ơi, mẹ à".

  Thịnh cầm cái xô nhỏ, chạy tút ra bờ mương. Bỏ lại phía sau tiếng réo gọi ới ời của bà ngoại. Nó kệ, vẫn cắm cúi chạy. Dường như đó là điệp khúc mà mỗi buổi trưa chủ nhật nó đều nghe thấy. 


  Lũ trẻ trong xóm cũng thế. Và bà ngoại, ngoài điệp khúc đó, còn mang theo một cây roi bằng tre dài, vừa chạy vừa chửi. Nhưng lũ trẻ nào có nghe. Dường như chúng để ngoài tai những lời của ngoại, chạy ra bờ mương bắt cua, bắt cá, cho thỏa đam mê sau một tuần bị kìm kẹp chân ở trường.

 Ngoại nay đã bảy mươi mấy rồi, chân tay yếu xìu. Không chạy lại với tụi nhỏ. Cũng chẳng la lối tụi nó được bao nhiêu. Chỉ cầm cây roi dọa dẫm cho có lệ. Rồi ngoại lại ngồi gốc tre, thở dốc. Bao nhiêu mệt mỏi dồn lên ngực. Tiếng ngực đập thình thịch, át cả tiếng chạy của lũ nhóc.

   Ngoại ngừng lại, lấy tay quệt mồ hôi đầm đìa trên trán. Lấy chiếc quạt mo, quạt cho đỡ nóng. Rồi cứ ngồi vậy để chờ cho mấy đứa "giặc" bắt cá xong, mới theo tụi nó đi về. Ít ra ngoại cũng ngồi ở đó để canh xem thằng Thịnh nó làm những gì. 

   Mấy nay mắt ngoại kém, chỉ thấy cái bóng lờ mờ của nó nhảy nhót dưới bờ mương. Cái miệng tía lia của nó đang trêu đùa với đám trẻ trong xóm. La là la thế thôi, nhưng ngoại vẫn muốn cho nó được chơi thỏa thích với đám bạn cùng trang lứa. Mấy nữa ba mẹ nó về đón lên thành phố, ngoại lại bơ vơ một mình, biết khi nào mới được nghe tiếng cười, tiếng nói của nó.

   Hai tuổi, Thịnh được ba mẹ đưa về ở với bà ngoại, để ba mẹ đi làm ăn xa. Lúc về quê, nó gầy nhưng trắng như cục bột và rất kén ăn. Ngoại ra quầy tạp hóa mua cho nó thùng sữa, mấy thứ đồ ăn lặt vặt, bỉm tã, rồi những thứ quan trọng. Nó rời xa vòng tay ba mẹ, khóc như chưa từng được khóc. 

Cứ đợi tầm 2-3 giờ sáng, nó lại bò dậy, làm một "bài ca". Ngoại lọ mọ, pha cho nó bình sữa, dỗ cho nó ngủ lại. Mất một tháng như thế, ngoại vừa canh nó vừa chăm bẵm cả ngày, người gầy rộc đi như một con khô. 

  Nhưng nghĩ thương cháu, cha mẹ nào cũng chẳng nỡ rời xa con khi nó đang bập bẹ, tuổi ăn, tuổi lớn, líu lo. Nhưng công việc, cơm áo gạo tiền, không đi không được. Một mình ngoại cáng đáng việc nhà, lo cho cháu. Đến khi nào nó lớn, ngoại trả nó lại cho ba mẹ nó.

  Từ khi nó về, ngoại phải sắm thêm một chiếc điện thoại thông minh, để tối nào ba mẹ nó cũng điện thoại về. Lắp thêm đường dây wifi để có kết nối mạng, tự nhiên ngoại tốn thêm một mớ. Ở nhà chả làm ra tiền nhiều, còn thêm tiền nuôi cháu, ngoại gánh hết. Lúc nó về, ba mẹ nó dúi vào tay ngoại mấy triệu bạc, bảo lo cho nó tới hết cuối tháng, bao giờ có lương thì lại gửi tiếp.

    Ngoại thương lũ con, đứa đi làm công nhân, đứa đi phụ hồ, tiền đâu cho nhiều mà đưa. Đợi lúc chúng nó gói ghém quần áo xong, đang chia tay chia chân ngoài sân thì ngoại lẻn bỏ cục tiền vào ba lô, đặng lên thành phố, chúng có cái mà ăn uống. Thằng Thịnh ở với ngoại, dù có tốn kém, lo thứ này thứ kia nhưng ở nông thôn, ngoại cũng xoay xở được cho nó đủ đầy.

  Hồi về là lúc Thịnh bập bẹ biết nói. Không biết ai bày hay ở với ba mẹ nó quen, mà nó cứ gọi ngoại là mẹ. Mấy cô, mấy thím trong xóm bảo nó gọi ngoại thôi, nó không chịu. Mỗi lần nó đu đeo theo ngoại, ôm lấy cái lưng còng của ngoại, hôn hít lên má ngoại rồi cứ thủ thỉ "Mẹ ơi, mẹ à". 

    Ngoại nghe trong lòng thấy vui, nhưng cũng xa xót. Như tuổi nó, mấy đứa nhà có điều kiện, chúng đều được ở với ba mẹ, sáng đưa đi học, chiều đón về. Buổi tối được quây quần bên mâm cơm gia đình, đủ đầy và ấm cúng. Còn với Thịnh, nó với ngoại lầm lũi trong căn nhà ngói ba gian cũ kỹ. 

  Ở quê thường hay bị cúp điện, nên cứ mỗi chiều, lúc còn chạng vạng, là ngoại đã lo nấu đồ ăn cho nó, đút cho nó lúc còn sáng sủa. Tới lúc nó lớn hơn một chút, ngoại để nó tự xúc, tự ăn. Hai bà cháu đều canh lúc trời sáng để ăn cơm. 

    Tới tối, nhỡ cúp điện, lũ muỗi ngoài đồng sẽ bay vù vù vào nhà, cắn hai bà cháu đến nát tay. Giờ xâm xẩm, hai bà cháu chui vô mùng, ngồi trong đó chơi. Ngoại sẽ kể cho Thịnh nghe về những câu chuyện cổ tích, về những ngày người dân ở đây vào chốn này mưu sinh, thành dân, lập ấp. Hay kể về những quãng đường gian nan mà ngoại đã từng trải qua, để cho nó hiểu, suốt tuổi thanh xuân, ngoại đã khổ cực, vất vả như thế nào.


    Câu chuyện thường đứt đoạn nửa chừng, vì thằng Thịnh đã ngáy o o, ngoại nhẹ nhàng gỡ tay ra, đặt nó xuống gối. Thằng bé nằm ngủ ngon lành. Ngoại rón rén ra sau nhà rửa chén, thu dọn lại đồ đạc trong nhà. 

   Buổi sáng bày ra đan giỏ, giờ đó còn ngổn ngang bao việc. Nhờ mối đan quen thuộc, tay ngoại lại khéo, nên tháng nào cũng có thu nhập, để ngoại đủ tiền mua sữa cho Thịnh. Ba mẹ nó ở thành phố, có khi gửi được nhưng có khi cũng không, công việc bấp bênh. 

  Nghe nói về đón Thịnh lên đoàn tụ mà rồi cứ xa lắc xa lơ. Nhưng thôi kệ, ở với nhau rồi, bà cháu quen hơi, ngoại cũng không muốn Thịnh rời đi nữa. Nghĩ đến cảnh một ngày nào đó, nó rời xa mình, tự nhiên ngoại rớt nước mắt.

- Á, đau quá, cua kẹp rồi tụi bây ơi!

Ngoại nghe tiếng thằng cháu la oai oái. Bỏ dở dòng suy nghĩ, ngoại chạy vội vàng ra phía bờ mương. Thằng Thịnh đang lắc tay lia lịa, con cua gan lì, kẹp lấy cái ngón tay của nó. Thấy chừng nó sắp khóc. Ngoại kêu:

   - Con ngồi xuống, thả tay lại xuống nước đi, lắc lắc nhẹ là nó tự bỏ ra à.

  Thằng nhỏ mếu máo làm theo. Một chốc đưa cái tay lên, nó thấy ngón cái tứa máu. Ngoại vội vàng chạy đến, ngắt một nắm lá cỏ hôi, bỏ vào miệng nhai, rồi nhả ra, đắp ngay vết thương cho Thịnh. Vừa đắp, ngoại vừa xuýt xoa, mắng se sẽ:


- Thấy chưa, ngoại đã nói rồi. Ban trưa không ngủ, chạy đi mà bắt cua, bắt cá. Được nhiêu con mà cái tay bấy nhầy vậy nè. Rồi ngày mai đi học cầm viết kiểu gì. Không chừng bảo cua cắp, cô giáo còn la cho nữa.

   Thịnh gạt nước mắt, mếu máo:

 - Ngoại đừng có la con nữa mà. Mai đi học, ngoại lấy băng keo, dán lại cho con, chắc cô giáo không thấy đâu.

  Nhìn đứa cháu tội nghiệp đang khóc vì đau, ngoại cũng xót trong lòng. Hai bà cháu dắt díu nhau lên bờ. Lũ trẻ trong xóm thấy Thịnh bị cua cắp nên cũng sợ, chúng gom mấy chiến lợi phẩm vào cái xô nhỏ, vội vàng rửa ráy chân tay chạy về. Chỉ đợi một chốc nữa thôi, trong nhà biết chuyện, kiểu gì chả có đứa đỏ mông.

 - Ở thành phố dạo này khó làm ăn lắm má ơi, hay tụi con về quê, có rau ăn rau, có cháo ăn cháo. Chống chọi miết trên này, cực lắm má - Tiếng mẹ Thịnh rầu rĩ trong điện thoại.

   Bà ngoại nghe xong chẳng thấy buồn, chỉ thấy ngoại cười tủm tỉm:

  - Ờ về đi, còn mấy sào đất ba tụi bây để lại, về cày ra trồng cây ăn trái hay trồng rau củ. Mang đi nhập cho mối, còn kiếm được ối tiền. Trụ lại trên đó làm gì, lay lắt khổ cực. Biết vậy sao không xác định về sớm đi, bây giờ thằng Thịnh đã 7 tuổi rồi. Nó lớn phổng phao, cũng cần cha, cần mẹ chứ.

  Thịnh đứng ở mé cửa, ngấp nghé. Nghe xong câu chuyện, nó nhảy chân sáo tưng tưng. Lại chạy tót sang bên nhà hàng xóm, khoe với mấy đứa bạn. Chắc mấy hôm nữa thôi, ba mẹ nó thu dọn về quê ở với nó. Vậy là nó chẳng phải rời xa bà ngoại nữa. Lại được gần với ba mẹ. Quá là thích thú.

   Ngoại thấy bước chân nó lí lắc. Cái mông ưỡn a, ưỡn ẹo. Hình như nó đang vui lắm…



BẠN BÈ

 Thật ra cũng có nhiều nơi cần người nhưng chỗ thì người ta cần bằng đại học, chỗ thì yêu cầu tuổi không quá ba mươi. Hạnh đành làm việc chân tay là ban ngày đi giúp việc cho người ta, tối thì đến dọn dẹp ở những quán ăn quán nhậu.

Tôi không nghĩ Khải, cậu bạn học hồi cấp ba lại đến tìm mình, một ông chủ như lời cậu ta đùa từ khi tôi quyết định chấm dứt đời đi làm nhận lương, chọn công việc trả lương cho người khác.


Không rào đón, Khải nói Hạnh cần một công việc, mà có lẽ chỉ tôi giúp được. Hạnh là cô bạn học cùng lớp. Từ khi còn đi học, chúng tôi luôn nghĩ về Hạnh như một bà quản gia cần mẫn. Tổ trực nhật chưa làm xong, Hạnh xông vào làm giúp. Lớp ở tận tầng 3 nên mỗi lần đi giặt giẻ lau bảng, đứa nào cũng cành nạnh nhau, Hạnh mang giẻ về nhà giặt, hôm sau mang lên. Hạnh còn xin được một bình nước uống để ở cuối lớp để mọi người khỏi phải chạy xa. Hồi ấy không thể bứng nhà vệ sinh lên tầng, nếu không thì Hạnh cũng làm.


Học cùng nhau nhưng Hạnh như chị cả. Nghe nói, mẹ Hạnh mất sớm nên Hạnh phải thay mẹ chăm sóc ba đứa em. Ra trường khi chúng tôi đứa vào đại học, đứa du học thì Hạnh học trung cấp với ý định nhanh có việc làm. Khi con trai lớn lên bảy tuổi, con gái nhỏ lên bốn thì vợ chồng Hạnh chia tay. Chồng cũ biết Hạnh muốn nuôi cả hai con cho có anh có em nên đã ra điều kiện khi phân chia tài sản, anh ta nhanh chóng có người khác nên cũng lơ luôn trách nhiệm chu cấp, Hạnh một mình nuôi dạy hai con. Nay con trai lớn của Hạnh vào đại học, cậu ta vừa học vừa đi làm thêm để bớt gánh nặng cho mẹ. Cuộc sống của Hạnh cứ bình bình đạm đạm vậy mà trôi qua nhưng mấy tháng trước, công ty Hạnh làm bị đóng cửa. Hạnh thành thất nghiệp.


Thật ra cũng có nhiều nơi cần người nhưng chỗ thì người ta cần bằng đại học, chỗ thì yêu cầu tuổi không quá ba mươi. Hạnh đành làm việc chân tay là ban ngày đi giúp việc cho người ta, tối thì đến dọn dẹp ở những quán ăn quán nhậu.


Là Khải vô tình nhìn thấy, cậu ta hỏi thăm mới biết hoàn cảnh của Hạnh. "Tôi cũng hỏi quanh mấy nơi mình quen biết nhưng người ta đòi tiếng Anh với bằng cấp. Tôi đảm bảo với ông, Hạnh thiếu những thứ đó nhưng nếu được hướng dẫn bả sẽ làm được", Khải nói.



     Tôi không nghĩ cô bạn học của mình lại có hoàn cảnh vậy. Mỗi năm chúng tôi đều tổ chức họp lớp một lần, bạn bè người nói mới xây nhà, người mới đổi xe, tôi nghĩ chúng tôi đều đã ở tuổi thành đạt sau một thời gian dài cố gắng. Những buổi họp lớp, Hạnh đều tham gia. Bạn bè nói hai đứa con Hạnh học rất giỏi, trong danh sách tặng quà năm nào cũng có tên. Hầu như không ai biết Hạnh có cuộc hôn nhân không hạnh phúc, ngay đến khi ly hôn cũng chịu thiệt, lớp tôi có bạn là luật sư, nếu khi ấy Hạnh nói thì bạn đó có thể giúp Hạnh đòi thêm quyền lợi cho ba mẹ con. Nhưng bản tính hiền lành lại giỏi chịu đựng nên Hạnh cứ chịu một mình, ba đứa em Hạnh điều kiện cũng không khá nên không giúp được nhiều cho chị.

Tôi còn đang tính sẽ thu xếp việc gì cho Hạnh thì Khải đùa: 

- Ông muốn hay không muốn cũng phải làm đấy, ngày xưa ông cũng thích Hạnh còn gì!


Tôi nhe răng cười, vừa kịp nhìn thấy vợ tôi từ trên lầu bước xuống, hình như vợ cũng nghe thấy câu nói của Khải nên vợ cứ cười cười làm tôi nhột nhạt. Có bà vợ nào lại không ghen khi biết trong quá khứ chồng mình đã từng có cảm tình hay thích ai đó, nhất là những mối tình thời học trò, dù ngắn nhưng luôn là mối tình khắc sâu. Chưa kể có bà còn nghĩ mình là sự lấp chỗ trống, là sự lựa chọn thứ mấy chứ không phải duy nhất.


Vợ chồng tôi cũng là bạn thời đại học, chúng tôi từng chung vai đi qua những khó khăn. Lúc tôi quyết định ra ngoài làm, suốt mấy năm đầu, mọi việc trong nhà ngoài ngõ lo lắng họ hàng hai bên đều do vợ gánh vác vì khi ấy tôi còn đang mò mẫm dò đường. Nhờ vợ mà tôi có ngày hôm nay, tôi dù quý Hạnh hay ngày trước từng thích Hạnh thì tôi cũng không bao giờ đánh đổi gia đình mình. Và Hạnh, với tính nết của mình, đời nào Hạnh đồng ý nếu tôi có ý định điên khùng.

Vợ cười cười.

- Ngày xưa cũng thích cơ!

Tôi thẳng thắn:

- Ngày đó Hạnh hiền và chu đáo lắm, Hạnh làm chị của ba đứa em và làm chị của cả lớp bốn mấy đứa cả trai lẫn gái. Không riêng anh mà con trai cả lớp đều thích Hạnh.

Vợ giơ tay ra làm động tác xòe bàn tay và siết chặt.

- Giờ thử thích xem!

    Tôi hứa với Khải sẽ thu xếp việc cho Hạnh nhưng thật sự công ty tôi không có chỗ nào có thể thêm người. Tôi đành hỏi bạn bè làm ăn, đối tác và thật may là có một công việc cần người nhưng điều kiện hơi cao so với Hạnh. Tôi nói chỉ cần cho Hạnh công việc, phần lương đó tôi sẽ trả.

Đạt cười:

- Tôi cũng đâu nghèo số tiền đó và càng không muốn nghèo trước ông. Yên tâm, tôi sẽ chú ý giúp đỡ bạn ông.

Đạt còn đùa:

- Có thật là bên ông không còn chỗ, hay ông sợ vợ nên đành đưa sang tôi?

    Tôi cười, quả thật tôi cũng có ý đó, tôi luôn tin tưởng vợ nhưng làm sao dám chắc vợ không nghĩ ngợi, suy diễn. Các bà vợ luôn là "cảnh sát kiêm thám tử" kiêm nhà nghi ngờ học và nhà đề phòng học với phương châm "thừa còn hơn thiếu", "phòng hơn chống". Nếu tránh được thì nên tránh ngay từ đầu kẻo muốn giúp bạn lại thành hại bạn. Là mẹ đơn thân, Hạnh dễ bị miệng đời, mà người như Hạnh hoàn toàn không nên chịu những oan ức đó. Trước khi Khải về, cậu ta vẫn không quên gọi tôi là nhà tư bản và dặn phải khéo léo.


Thi thoảng tôi có hỏi Đạt về Hạnh, anh nói anh vừa ý với chị nhân viên này lắm, Hạnh cẩn thận, chu đáo và không nề hà bất cứ việc gì dù là dọn vệ sinh, đổ rác hay phải tăng ca đột xuất. Đạt còn nói từ giờ khi tuyển người, cậu ta sẽ tuyển người có tuổi, có kinh nghiệm hơn là bằng cấp. Nghe vậy, tôi cũng mừng cho Hạnh.


Buổi tối, tôi phát hiện mình để quên hồ sơ cần xử lý ở văn phòng, tôi rủ vợ đi lấy, tiện thể hai vợ chồng đi hóng gió. Vợ tôi có vẻ ngần ngừ nói một mình vợ đi là được. Chiều nay tôi có uống mấy ly nên hơi bức bối, muốn ra ngoài hít thở và thay vì đi xe hơi, chúng tôi quyết định đi bằng xe đạp điện của con gái.


Trên đường đi, vợ ngồi sau không ngừng cười khúc khích, luôn miệng nhắc tôi chạy từ từ. Phải hơn chục năm rồi chúng tôi không đi cùng nhau kiểu này, hai vợ chồng luôn người nào việc nấy, mãi tối mới gặp nhau, có ngày còn không ăn cùng nhau bữa cơm. Những ngày đầu khó khăn, vợ chồng cứ động viên nhau ráng đi, mai mốt khá hơn sẽ khác, mình cần cù, chịu khó, trời sẽ không để đói khổ mãi. Nhưng đi hoài, cuộc sống có khá hơn rồi nhưng lại muốn hơn nữa, rằng cố rồi nay cố thêm chút nữa, mình sao cũng được nhưng còn cha mẹ ngày một già yếu, còn con cái mai này. Lại động viên nhau, so với những gia đình kẻ Bắc người Nam thì nhà mình còn chung một mái nhà đã hơn người rồi…


Đi một đoạn, vợ còn đòi chở, vợ nhắc những ngày chúng tôi mới lấy nhau, những khi tôi say, vợ cũng đi đón tôi bằng cái xe máy cà tàng.


Tầng một công ty còn ánh đèn, tôi cau mày nói ai về sau mà không chịu kiểm tra cúp cầu dao, lỡ đêm hôm xảy ra chập cháy gì thì sao. Vợ cười nói không sao, phòng đó có bảo vệ ở. Tôi ngạc nhiên, công ty tôi có bảo vệ từ khi nào, vợ nói thời gian trước ở con đường này xảy ra trộm, trộm vào khuân mấy bộ máy tính, gây thiệt hại không ít nên vợ quyết định thuê bảo vệ trực đêm. Công ty tôi ngoài có cổng cao, trong có cửa sắt, cửa cuốn nhưng có người ở đó, có ánh đèn vẫn yên tâm hơn.


Bảo vệ là một anh chàng còn khá trẻ, chính xác là một cậu nhóc dong dỏng cao, cậu ta gọi chúng tôi là cô chú. Tôi lên lầu lấy giấy tờ, vợ ở dưới nói chuyện với cậu ta, tôi nghe cậu ta một dạ hai thưa, nói năng rất lễ phép. Tôi vui miệng hỏi ban ngày cậu ta làm gì thì biết cậu còn là sinh viên, tối đến đây trực vẫn có thể học bài được.


Trên đường về, tôi nói, tôi mong hai đứa con mình cũng chăm chỉ chịu khó như cậu trai kia, chỉ trực đêm vậy hẳn lương cũng không cao nhưng cậu ta vẫn rất vui vẻ vì có thêm khoản thu nhập và không ảnh hưởng việc học. Vợ cho xe chạy chậm lại, hơi ngoái nhìn tôi:


- Cậu ấy là người quen của anh đấy.


Tôi còn đùa:


- Đừng nói cậu ta là con riêng của anh nhé?


- Mẹ cậu ấy là chị Hạnh, bạn anh.


Tôi im lặng. Vợ nói, vợ đã nghe câu chuyện của Khải, cũng biết tôi nhờ Đạt tìm việc cho Hạnh, vợ nghĩ tôi sợ vợ nghĩ ngợi nên mới không dám nhận Hạnh nên vợ đã làm như vô tình gặp con trai Hạnh trong quán ăn. Tôi không biết phải nói gì với vợ, tôi từng lo lắng lòng dạ phụ nữ hẹp hòi nhưng cũng không biết họ có thể làm những chuyện cánh đàn ông chúng tôi không ngờ tới, tuỳ thuộc vào thái độ và tình cảm của chúng tôi, những ông chồng, dành cho họ.


Tôi gọi cho Khải, định nói cậu ta yên tâm vì tôi đã làm tròn trách nhiệm cậu ta giao phó, nghe cậu ta cười sang sảng:


- Bà xã ông có gọi cho tôi rồi, hôm ấy nghe bả tự giới thiệu mà tôi toát mồ hôi lạnh tưởng bị hỏi tội. Bả hỏi chỗ làm của thằng lớn nhà Hạnh. Nói thật, tụi tôi cảm ơn vợ chồng ông lắm lắm. Khi nào rảnh, tôi xin phép được mời nhà tư bản ông một chầu nhé!


Tất nhiên là tôi đồng ý. Bạn bè với nhau cả mà.



GIẤC MƠ THỊ THÀNH

 Ước mơ của cô như đốm lửa sắp tàn bất ngờ bùng cháy lại. Trên đầu cô, những con đom đóm vẫn nhấp nháy như ánh cười của bố với cô. Thị thành vẫn đầy đom đóm.


     Ngoài người, xe cộ, những ngôi nhà cao tầng thì ánh sáng là thứ thành phố nhiều vô kể. Đêm cũng như ngày, thị thành lúc nào cũng nhộn nhịp và rực sáng, lúc mới đặt chân đến đất này, khi lang thang dưới những ngọn đèn đường, Trân mới hiểu tại sao người ta gọi đây là "thành phố chẳng bao giờ ngủ". 

Thành phố có thực sự thức cả đêm theo những ánh đèn xanh đỏ hay không, thực tình Trân cũng chẳng quan tâm quá nhiều, thứ mà nó đau đáu nhất là những con đom đóm. Phố lúc nào cũng sáng đèn, chẳng biết tìm đâu loài đom đóm thân thuộc nơi quê nhà.


Thành phố đón Trân bằng một cơn mưa tầm tã. Từ bến xe về phòng trọ của chị Nhàn trên chiếc xe máy cà tàng, hai chị em như bơi giữa biển nước, cả người ướt rượt từ chân đến đầu. Trân ngơ ngác, phố thị mà cũng bị lụt lội hệt như cái năm ở quê Trân sông vỡ đê, nước tràn vào làng. 


Chị Nhàn cười, "rồi em sẽ sớm quen thôi". Chị Nhàn là chị họ, hơn Trân 7 tuổi. Sau khi học hết lớp 9, chị một thân một mình lên thành phố đi xin việc. Nhờ vậy mà đến lượt mình, Trân được chỉ cho từng bước để tồn tại ở thị thành này chứ không phải lần mò thân cô thế cô như chị ngày trước. 


Trân chẳng biết cái sớm của chị Nhàn nói là bao lâu khi mà đã gần 2 tháng ở thành phố, Trân vẫn thấy xa lạ, lạc lõng và nhớ nhà đến da diết. Trân nhớ mẹ, nhớ thằng Tí và cả những con đom đóm ở quê.


Ngày Trân bắt xe lên thành phố, thằng Tí ôm chân, khóc ngằn ngặt đòi chị ở lại, làm Trân không kìm được nước mắt mà khóc theo. Mẹ đứng nhìn hai chị em ôm nhau khóc mắt cũng đỏ hoe, đến tận khi Trân lên xe, ngoái lại vẫn thấy thằng Tí rấm rứt. 


    Trân thương mẹ phải làm quần quật để lo miếng cơm cho cả nhà, mẹ làm nhiều đến mức mới ngoài bốn mươi tuổi mà đã trông khắc khổ như người sáu mươi, bảy mươi tuổi, lưng mẹ còng xuống, da nhăn nheo và in hằn những nhọc nhằn nắng mưa. 


Sức khỏe của mẹ càng ngày càng yếu theo từng mùa lúa trổ bông, mùa ngô tra hạt, mùa rau thu hoạch. Vì vậy, khi nhận giấy báo trúng tuyển đại học, Trân đã giấu nhẹm mà không nói cho mẹ hay.


Tờ giấy nhập học Trân cất sâu dưới đáy ba lô mang lên thành phố, những khi ở nhà một mình, không phải đi làm cô lại lôi ra xem. Trân thuộc làu đến từng dấu chấm, dấu phẩy, từng đoạn xuống dòng, từng nét in hoa, in đậm trong đó nhưng cô vẫn lôi ra đọc. Lần nào cũng vậy, đọc xong là Trân khóc, ước mơ của cô, ước mơ của bố gần thật gần nhưng chẳng thể nào Trân với tới.

   Ngay từ bé, Trân đã mong được trở thành cô giáo. Lũ trẻ trong xóm có bài khó không giải được đều chạy qua nhà chị Trân nhờ giảng bài. Mỗi lần chải mái tóc đen dài của Trân, bố luôn bảo, tóc Trân rất hợp với mặc áo dài, bố chờ đến ngày được thấy con gái trên bục giảng dạy lũ học trò ê a tập đọc. 


Nhưng bố chẳng kịp chờ đến ngày đó thì trận lũ lịch sử tràn vào làng đã cướp mất bố khỏi mẹ con Trân, năm ấy Trân 10 tuổi, còn thằng cu Tí mới chỉ đang nằm nôi được vài tháng.


Bữa đó mưa tầm tã, nước trong ao dâng lên mỗi lúc một cao, đàn cá chỉ mấy hôm nữa là có thể bán đang lăm lăm theo dòng nước lớn bơi đi mất. Số cá đó là toàn bộ những gì nhà Trân có nên bố mẹ như ngồi trên đống lửa, cầu trời tạnh mưa. Nhưng mưa mỗi lúc một to hơn.


 Chẳng thể ngồi yên chờ cá đi mất, bố xách lưới đi quây ao, bất chấp sự can ngăn của mẹ, hòng vớt vát được chút rau cháo nào hay chút đó. Khi lưới mới chỉ kịp giăng nửa ao thì nước lũ bất ngờ ào về. 


Lũ cướp sạch số cá và cả bố Trân theo dòng nước đi mãi, chẳng bao giờ về lại. Từ đó, mẹ thay bố làm cha, gồng gánh nuôi hai chị em Trân. Cũng từ đó, Trân thay mẹ chăm em Tí và lo toan cơm nước ở nhà.


Có lẽ biết thân phận mình sinh ra trong nghèo khó, thiếu vắng bố nên ngay từ khi còn bé, cu Tí đã rất ngoan, chẳng bao giờ quấy khóc hay đòi hỏi mẹ, chị phải mua thứ này, thứ kia như những đứa trẻ khác. 


Bảy sào ba thước ruộng chẳng đủ để lo cho cả nhà nên mẹ Trân phải nhận làm thêm làm mướn. Một ngày của mẹ bắt đầu từ khi mặt trời vẫn còn say giấc ngủ, đất ướt đẫm sương đêm và kết thúc khi trời đã đen kịt. 


Buổi sáng trước khi đi học, Trân sẽ mang em Tí sang nhà bà ngoại để nhờ bà trông em hộ, còn buổi chiều không phải đến trường, hai chị em quanh quẩn ở nhà trông nhau. Chiều mát, Trân thường dẫn cu Tí ra đồng để em chơi với đám cỏ gà trên bờ, còn Trân đi bòn chút rau má, rau bợ hay bắt con cua, con ốc về ăn cải thiện.


Nhà Trân ở cuối làng, ngay cạnh cánh đồng, đêm đom đóm lập lòe từng đàn bay quanh. Lần đầu tiên nhìn thấy chúng, em Tí đã khóc toáng lên vì sợ. Trân trấn an đủ kiểu mà thằng bé vẫn rúm ró như thể ai đánh đuổi. 


Mãi đến khi Trân bảo đom đóm chính là vật dẫn đường để bố về thăm chị em mình, Tí mới thôi sợ hãi. Thằng bé sinh được mấy tháng thì bố mất nên ký ức về bố của nó chẳng có gì ngoài bức ảnh trên ban thờ và những câu chuyện kể vụn vặt của chị. 


Mỗi khi nghe nhắc về bố, mắt nó lại long lanh, chăm chú lắng nghe. Từ sợ hãi, Tí yêu thích đom đóm lúc nào chẳng hay. Trân còn kể cho Tí nghe câu chuyện ngày xưa có một cậu bé nhà nghèo bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng gà để học bài, sau này thi cử đỗ đạt và làm quan to. 


Tí nghe vậy cũng nằng nặc đòi Trân bắt cho kỳ được đom đóm cho vào vỏ trứng bắt chước học bài, nhưng nó chỉ háo hức một chút rồi thôi ngay khi những con đom đóm cứ yếu dần yếu dần, thậm chí có con bị chết. Nó thả những con đom đóm về lại đồng ruộng, nói "em không muốn linh hồn của bố đi mất"…


    

Đêm trước ngày lên thành phố, chị em Trân đã ngồi lâu thật lâu bên bờ ruộng, nhìn những con đom đóm bay lẫn trong bóng tối. Hai chị em ngồi bên nhau, có nhiều điều muốn nói nhưng rồi chẳng ai mở lời để mặc cho tiếng côn trùng rỉ rả kêu và gió lồng lộng thổi… 


    Bất ngờ cu Tí níu tay chị: "Chị lên thành phố, bố có biết đường tìm đến với chị để bảo vệ và chở che không?". Trân cười, ở đâu chẳng có đom đóm, bố lúc nào cũng ở bên chị em mình hết. Lúc trả lời Tí vậy, Trân đâu biết ở thị thành đèn sáng choang, đất đai thì bê tông hóa, lấy chỗ nào cho đom đóm sinh sống mà tìm.


  Trân đã quen dần với công việc và nhịp sống hối hả của người thành phố. Chị Nhàn xin cho cô làm công nhân trong một xưởng may gần nhà. Ai cũng bảo làm công nhân may vất vả nhưng Trân thấy công việc nhàn tênh so với những gì mẹ phải làm dưới quê mà tháng lương gấp nhiều lần của mẹ. Dù Trân đã cố giấu, nhưng chị Nhàn vẫn tinh ý nhận ra trong ánh mắt Trân ẩn ức điều gì đó rất buồn...


Đêm hôm đó, sau khi ăn cơm xong, chị Nhàn bảo Trân ra ngoài với chị có chút việc. Trên chiếc xe máy cà tàng, chị Nhàn chở Trân qua những con phố sáng đèn, những cửa hiệu sang trọng bên trong những tòa nhà cao chót vót. 


Đang miên man suy nghĩ thì xe đã dừng trước cổng một công viên rộng lớn giữa lòng thành phố. Chị Nhàn kéo Trân vào bên trong. Trân còn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì thì thấy những con đom đóm bay đẹp tựa nơi quê nhà của cô.


Chị Nhàn bảo, "thành phố sáng đèn quá nên lũ đom đóm nép mình nơi những góc tối của công viên. Đất này xô bồ, vội vã vậy thôi chứ ai rồi cũng có một chỗ đứng cho mình, em hãy tiếp tục việc học hành, chị tưởng em không đậu đại học nên mới giới thiệu làm công nhân chứ nếu biết em trúng tuyển thì thiếu gì công việc khác cho em. 


Gia sư, bưng bê chẳng hạn, tuy thu nhập không cao nhưng cũng phụ giúp em cáng đáng phần nào, có gì chị giúp thêm. Thị thành ráo hoảnh vậy thôi chứ cũng nhiều người tốt lắm, ngày chị lên đây được giúp đỡ nhiều, không lý gì chị lại không giúp được em".


Trân nghe chị Nhàn nói mà rơi nước mắt. Ước mơ của cô như đốm lửa sắp tàn bất ngờ bùng cháy lại. Trên đầu cô, những con đom đóm vẫn nhấp nháy như ánh cười của bố với cô. Thị thành vẫn đầy đom đóm.




NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ CUỘC SỐNG

 1. Câu chuyện quả táo

Một em bé đáng yêu đang cầm hai quả táo trong tay. Mẹ em bước vào phòng và mỉm cười hỏi cô con gái nhỏ: “Con yêu, con có thể cho mẹ một quả táo được không?”

  Em bé ngước nhìn mẹ trong một vài giây, rồi sau đó lại nhìn xuống từng quả táo trên hai tay mình. Bất chợt, em cắn một miếng trên quả táo ở tay phải, rồi lại cắn thêm một miếng trên quả táo bên tay trái.

    Nụ cười trên gương mặt bà mẹ bỗng trở nên gượng gạo. Bà cố gắng không để lộ nỗi thất vọng của mình.

    Sau đó, cô gái nhỏ giơ lên một trong hai quả táo vừa bị cắn lúc nãy và rạng rỡ nói: “Quả táo này dành cho mẹ nhé, nó ngọt hơn đấy ạ!”.


2. Con cáo và chùm nho

Một buổi chiều nọ, có một chú cáo đang dạo bước trong rừng và chú phát hiện ra một chùm nho treo lơ lửng trên cành cây cao. Cáo thèm tới mức nước bọt cứ trào ra hai bên mép.

"Thứ này sẽ làm dịu cơn khát của mình đây", chú nghĩ.

   Lùi lại vài bước, chú cáo phóng người lên nhưng không hái được chùm nho nào mà chỉ tới lá nho mà thôi. Một lần nữa, chú cáo lại lùi lại vài bước và cố gắng để hái được chùm nho nhưng vẫn thất bại. Cáo ta tìm đủ mọi cách nhưng vẫn không thể với tới được chùm nho.

    Cuối cùng, bỏ cuộc, chú cáo hếch mũi lên và nói: "Dù gì thì cũng chỉ là những trái nho chua mà thôi", rồi cứ thế bỏ đi.

Ý nghĩa câu chuyện:

   Thật dễ dàng để coi thường những gì bạn không thể có được. Một số người khi không có được thứ gì đó liền nói thứ đó không ra gì cả. Thực tế thì chỉ là vì khả năng của mình có giới hạn không thể có được nhưng đành lấy cớ, tự dối lòng mình để tự biện minh.


3. Giá trị của hòn đá

Có một học trò hỏi thầy mình rằng:

Thưa thầy, giá trị của cuộc sống là gì ạ?

Người thầy lấy một hòn đá trao cho người học trò và dặn:

    Con đem hòn đá này ra chợ nhưng không được bán nó đi, chỉ cần để ý xem người ta trả giá bao nhiêu.

     Vâng lời thầy, người học trò mang hòn đá ra chợ bán. Mọi người không hiểu tại sao anh lại bán một hòn đá xấu xí như vậy. Ngồi cả ngày, một người bán rong thương tình đã đến hỏi và trả giá hòn đá một đồng. Người học trò mang hòn đá về và than thở:

  - Hòn đá xấu xí này chẳng ai thèm mua. Cũng may có ngườihỏi mua với giá một đồng thầy ạ.

Người thầy mỉm cười và nói:

  - Tốt lắm, ngày mai con hãy mang hòn đá vào tiệm vàng và bán cho chủ tiệm, nhớ là dù chủ cửa hàng vàng có mua thì cũng không được bán.

    Người học trò rất bất ngờ khi chủ tiệm vàng trả giá hòn đá là 500 đồng. Anh háo hức hỏi thầy tại sao lại như vậy. Người thầy cười và nói:

  - Ngày mai con hãy đem nó đến chỗ bán đồ cổ. Nhưng tuyệt đối đừng bán nó, chỉ hỏi giá mà thôi.

   Làm theo lời thầy dặn, sau một hồi xem xét thì anh vô cùng ngạc nhiên khi chủ hiệu trả giá hòn đá là cả gia sản hiện có. Anh vẫn nhất quyết không bán và vội về kể lại với thầy. Lúc này người thầy mới chậm rãi nói:

 - Hòn đá thực chất chính là một khối ngọc cổ quý giá, đáng cả một gia tài, và giá trị cuộc sống cũng giống như hòn đá kia, có người hiểu và có người không hiểu. Với người không hiểu và không thể cảm nhận thì giá trị cuộc sống chẳng đáng một xu, còn với người hiểu thì nó đáng giá cả một gia tài. Hòn đá vẫn vậy, cuộc sống vẫn thế, điều duy nhất tạo nên sự khác biệt là sự hiểu biết của con và cách con nhìn nhận cuộc sống.

  Bài học: Mỗi người có một cách “định giá” khác nhau về thành công hay hạnh phúc. Hãy tôn trọng sự lựa chọn của mỗi người và làm cho đời mình trở nên giá trị theo cách của mình. Chỉ có bạn mới quyết đinh được cuộc sống của bạn.


4. Câu chuyện về hai hạt lúa


   Có hai hạt lúa nọ được giữ lại để làm hạt giống cho vụ sau vì cả hai đều là những hạt lúa tốt, đều to khỏe và chắc mẩy,...

Một hôm, người chủ định đem chúng gieo trên cánh đồng gần đó. Hạt thứ nhất nhủ thầm:


Dại gì ta phải theo ông chủ ra đồng. Ta không muốn cả thân mình phải nát tan trong đất. Tốt nhất ta hãy giữ lại tất cả chất dinh dưỡng trong lớp vỏ này và tìm một nơi lý tưởng để trú ngụ.” Thế là nó chọn một góc khuất trong kho lúa để lăn vào đó.

Còn hạt lúa thứ hai thì ngày đêm mong được ông chủ mang gieo xuống đất. Nó thật sự sung sướng khi được bắt đầu một cuộc đời mới.

Thời gian trôi qua, hạt lúa thứ nhất bị héo khô nơi góc nhà bởi vì nó chẳng nhận được nước và ánh sáng. Lúc này chất dinh dưỡng chẳng giúp ích được gì- nó chết dần chết mòn. Trong khi đó, hạt lúa thứ hai dù nát tan trong đất nhưng từ thân nó lại mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt. Nó lại mang đến cho đời những hạt lúa mới...


Bài học: Đừng bao giờ tự khép mình trong lớp vỏ chắc chắn để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của bản thân mà hãy can đảm bước đi, âm thầm chịu nát tan để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ - đó là sự chọn lựa của hạt giống thứ hai. Trước cánh đồng cuộc đời bao la này tôi hy vọng chúng ta mỗi người sẽ có những sự lựa chọn cho riêng bản thân mình.


5. Ruồi và Ong Mật


Con ruồi phát hiện hình dáng nó rất giống con ong mật, rất lấy làm khoái chí, dự tính giả làm ong mật đi đến các khóm hoa lừa gạt tình cảm của hoa, cướp lấy mật ngọt.

Nhưng nó bay qua bay lại trong các khóm hoa không biết đã bao nhiêu lần rồi, lại không thấy có một bông hoa nào nở nụ cười với nó. Nó rất lấy làm khó hiểu, tìm đến hỏi ong mật rốt cuộc là nguyên nhân tại vì sao.

Ong mật cười đáp: “Cậu chỉ là hình dáng giống tôi thôi, nhưng trên thực tế vốn không phải là tôi! Bởi vậy, dù cậu có bay cả một đời quanh các khóm hoa, thì hoa cũng sẽ không xem cậu là tôi đâu!”.


Bài học rút ra: Vẻ ngoài có thể giống nhau, nhưng nội hàm thì lại không cách nào thay thế được.


6. Chàng trai trẻ và cô gái

Một chàng trai trẻ ở khu du lịch trông thấy một cô gái vừa xinh đẹp lại rất có khí chất, liền đi theo cô gái hết một đoạn đường rất dài. Cuối cùng cô gái này không chịu được nữa, liền quay người lại hỏi: “Sao anh cứ mãi đi theo tôi vậy?”.

Chàng trai bộc bạch rất chân thành: “Bởi em là người con gái xinh đẹp nhất, có khí chất nhất mà anh từng gặp, mong em hãy nhận lời làm bạn gái anh, có được không?”.

Cô gái trả lời: “Nếu anh nói tôi xinh đẹp, thế thì anh đã nhầm rồi, bây giờ chỉ cần anh quay đầu lại nhìn, sẽ thấy được cô bạn thân của tôi, cô ấy còn xinh đẹp hơn tôi nhiều!”.

Chàng trai đó nghe xong, lập tức quay đầu lại, nhưng nhìn thấy đâu đâu cũng chỉ là những cô gái tầm thường đâu đâu cũng gặp.

“Sao em lại lừa anh chứ?”, anh chất vấn cô gái.

“Là anh đang dối gạt tôi mới phải! Nếu anh thật sự thích tôi, thì sao lại còn ngoảnh đầu lại ngắm nhìn người con gái khác?”. Cô gái nói xong, liền cất bước bỏ đi thật nhanh.


Bài học rút ra: Con người ta đều là ăn cơm trong bát, nhìn cơm trong nồi, có những lời thề thốt chỉ có thể nghe cho có mà thôi!


7. Cái kết cho sự khinh thường

Tiều phu cùng học giả đi chung một chiếc thuyền ở giữa sông. Học giả tự nhận mình hiểu biết sâu rộng nên đề nghị chơi trò đoán chữ cho đỡ nhàm chán, đồng thời giao kèo, nếu mình thua sẽ mất cho tiều phu mười đồng. Ngược lại, tiều phu thua sẽ chỉ mất năm đồng thôi. Học giả coi như mình nhường tiều phu để thể hiện trí tuệ hơn người. Đầu tiên, tiều phu ra câu đố:


“Vật gì ở dưới sông nặng một ngàn cân, nhưng khi lên bờ chỉ còn có mười cân?”.


Học giả vắt óc suy nghĩ vẫn tìm không ra câu trả lời, đành đưa cho tiều phu mười đồng. Sau đó, ông hỏi tiều phu câu trả lời là gì.


“Tôi cũng không biết!“, tiều phu đưa lại cho học giả năm đồng và nói thêm:


“Thật ngại quá, tôi kiếm được năm đồng rồi.” Học giả vô cùng sửng sốt.


Bài học rút ra: Chẳng ai sinh ra đã hoàn hảo, càng tỏ vẻ khinh thường người khác thì càng chứng tỏ bạn là một người ngu dốt. Chẳng ai dám vỗ ngực nhận mình biết nhiều thứ bởi lẽ còn vô vàn thứ mà chúng ta vẫn chưa được biết đến. Càng tỏ ra thông minh thì sẽ càng bị thông minh hại. Cũng như người tiều phu trong câu chuyện mặc dù không học nhiều như học giả nhưng lại biết cách tính toán để cho mình có thể vẫn kiếm được một chút. Còn về phía học giả đã bị chính sự khinh thường và chấp tiều phu mà mất đi một khoản tiền oan. Đừng khinh thường người khác vì cái kết nhận lại lúc nào cũng rất đau đớn.



8. Hành trang lên đường

Có một hòa thượng muốn đi học tập ở nơi xa. Sư thầy hỏi: “Khi nào con đi?”


“Tuần sau con sẽ đi. Đường xa, con đã nhờ người đan vài đôi giày cỏ, sau khi lấy giày con sẽ lên đường.”


Sự thầy trầm ngâm một lát rồi nói: “Nếu không thì thế này, ta sẽ nhờ các tín chúng quyên tặng giày cho con.”


Không biết sư thầy đã nói với biết bao nhiêu người nhưng ngày hôm đó, có đến vài chục người đem giày đến tặng, chất đầy cả một góc căn phòng thiền.


Sáng hôm sau, lại có người mang một chiếc ô đến tặng cho hòa thượng.


Hòa thượng hỏi: “Tại sao tín chủ lại tặng ô?”


“Sư thầy nói rằng hòa thượng chuẩn bị đi xa, trên đường có thể sẽ gặp mưa lớn, sư thầy nói với tôi liệu tôi có thể tặng hòa thượng một chiếc ô?”


Thế nhưng hôm đó, không chỉ có người đó mang ô đến tặng. Đến buổi tối, trong phòng thiền đã chất khoảng 50 chiếc ô các loại.


Giờ học buổi tối kết thúc, sư thầy bước vào phòng thiền của hòa thượng: “Giày cỏ và ô đã đủ chưa?”


“Đủ rồi ạ!” – Hòa thượng chỉ vào đống ô và giày cỏ chất cao như ngọn núi nhỏ trong góc phòng. “Nhiều quá rồi thầy ạ, con không thể mang tất cả đi được.”


“Vậy sao được”, sư thầy nói. “Trời có lúc mưa lúc nắng, có ai tiên liệu được con sẽ phải đi bao xa, phải dầm bao nhiêu lần mưa gió. Nhỡ đâu giày cỏ đi rách hết cả, ô cũng mất, lúc đó con phải làm sao?”


Ngừng một lát, ông lại tiếp tục: “Trên đường đi, chắc chắn con sẽ gặp không ít sông suối, mai ta sẽ có lời nhờ tín chúng quyên thuyền, con hãy mang theo…”


Đến lúc này, vị hòa thượng mới hiểu ra ý đồ của sư phụ. Hòa thượng quỳ rạp xuống đất, nói: “Đệ tử sẽ xuất phát ngay bây giờ và sẽ không mang theo bất cứ thứ gì ạ.”


Bài học: Khi làm bất cứ việc gì, điều quan trọng không phải là những vật ngoài thân đã được chuẩn bị kỹ lưỡng hay chưa mà là ta đã đủ quyết tâm hay chưa?


Có quyết tâm, vạch rõ mục tiêu, tất cả đều không còn là vấn đề, không còn là trở ngại.


Hãy mang trái tim của mình lên đường, mục tiêu dù ở xa bao nhiêu đi chăng nữa nhưng đường ở ngay dưới chân mình, hãy cứ đi rồi sẽ đến. Bạn bước đi dù chỉ một bước, điều đó cũng có nghĩa rằng bạn đã có thu hoạch. Chỉ cần đem theo trái tim lên đường, tất cả những vật ngoài thân khác tự sẽ đủ!


9. Người đàn ông vứt bỏ đôi giày

Chuyến xe lửa đang chạy trên đường cao tốc, Johnny không cẩn thận làm rơi một chiếc giày mới mua ra ngoài cửa sổ, mọi người chung quanh đều cảm thấy tiếc cho ông. Bất ngờ, ông liền ném ngay chiếc giày thứ hai ra ngoài cửa sổ đó. Hành động này của Johnny khiến mọi người sửng sốt, thế là ông bèn từ tốn giải thích: “Chiếc giày này bất luận đắt đỏ như thế nào, đối với tôi mà nói nó đã không còn có ích gì nữa, nếu như có ai có thể nhặt được đôi giày, nói không chừng họ còn có thể mang vừa nó thì sao!”.


Bài học: Những thứ không còn lợi ích với mình đôi khi lại là niềm hạnh phúc vô bờ đối với người khác. Hãy trân trọng mọi thứ mình có và chia sẻ niềm hạnh phúc với mọi người.


10. Cảm ơn bố đã cho con thấy chúng ta nghèo như thế nào!

Một ngày nọ, người bố giàu có dẫn cậu con trai của mình thăm thú một ngôi làng. Người bố muốn cho con trai của mình thấy một người nghèo có thể nghèo đến mức nào. Họ đã dành thời gian tham quan cánh đồng của một gia đình nghèo. Sau khi trở về, người bố hỏi cậu con trai:


– Con thấy chuyến đi thế nào?


– Rất tuyệt bố ạ!


Người bố hỏi:


– Con đã thấy người nghèo sống thế nào chưa?


– Vâng con thấy rồi ạ!


– Vậy nói cho bố nghe, con học được gì từ chuyến đi này?


Cậu bé trả lời: “Chúng ta có 1 con chó, họ có 4. Chúng ta có bể bơi, họ có những con sông. Chúng ta dùng đèn vào ban đêm, còn họ có những ngôi sao. Chúng ta có những bức tường để bảo vệ mình, họ có bạn bè. Chúng ta có TV, còn họ dành thời gian cho gia đình và họ hàng.”


Người bố không nói lên lời. Cậu bé nói thêm: “Cảm ơn bố đã cho con thấy chúng ta nghèo như thế nào!”.


Ý nghĩa câu chuyện: Chúng ta không giàu có chỉ vì có nhiều tiền. Tình yêu, lòng trắc ẩn, tình bạn, những giá trị đích thực, gia đình mới khiến bạn là người thực sự giàu có.